Wednesday, September 21, 2016

Nhân Ngày Giổ lần thứ 11 Cố Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng (9/21/2005 - 9/21/2016)

Tướng Lê Quang Lưỡng và Phạm Hòa NKT

CHUẨN TƯỚNG LÊ QUANG LƯỠNG
(1932-2005)
Gia Nhập Quân Đội vào ngày 17 tháng 11 năm 1953
Theo Hoc Khóa Cương Quyết, Khóa 4 Thủ Đức vào 1 tháng 6 năm 1954
Thuyên chuyển về Tiểu Đoàn 5 nhảy dù tháng 8 năm 1954 Tại Hà Nội 11 năm liên tục Phục Vụ Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù với chức vụ Trung Đội Trưỡng , Đại Đội Trưởng Sỉ Quan Ban 3, Tiểu Đoàn Phó , được chỉ định theo hoc khóa Tiểu Đoàn Trưỡng , ra trường đậu Thủ Khoa.
Tiểu Đoàn Trưởng và Thành Lập Tiểu Đoàn 2 đầu năm 1966
Chiến Đoàn Trưởng Chiến Đoàn 1 cuối tháng 11 năm 1967
Được Vinh Thăng Chuẩn Tướng và Tư Lệnh Phó , Sư Đoàn Nhẩy Dù vào tháng 6 năm 1972
Tổng Thống Bổ Nhiệm, Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù tháng 10 năm 1972
Cho đến những ngày cuối cùng của cuộc chiến Viet Nam .


Huy Chương
Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương,
Đệ Tứ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương,
Đệ Ngủ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương,
21 Anh Dủng Bội Tinh với nhành dương liểu,
6 ngôi sao vàng , bạc va đồng ,
3 Chiến Thương Bội Tinh,
Two Silver Stars with V Device –1971-1972,
Three Bronze Star with V Device – 1967-1968-1970,
One Distinguished Flying Cross and
One Air Medal.


Thăng Cấp
Thiếu Úy 1 tháng 6 năm 1954.
Trung Úy 1956
Đại Úy 1963
Thiếu Tá 1966
Trung Tá 1968
Đại Tá 1970
Chuẩn Tướng 1972.


Sự tiến thân lần lượt qua nhiều chức vụ từ Tiểu Đội Trưởng đến Tiểu Đoàn Trưởng, rồi Lữ Đoàn Trưỡng sau cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn do sự cố gắng cương quyết không ngừng nghĩ trong 21 năm dài . Dấn thân cùng các Chiến Hữu cam khổ chịu đựng tinh thần lẫn thể xác để phục vụ đơn vị . Góp công sức để xây dựng môt đơn vị thiện chiến nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Thật là một Kỳ Công xin được biết ơn và lòng ngưỡng mộ tri ân .

Hình chụp gia đình trong Sinh Nhật Tướng Lê Quang Lưỡng và ngày công nhận Nghĩa Tử Phạm Hòa Nha Kỹ Thuật

 Các con cháu say mê vũ khí và Quân Phục triễn lãm trong ngày sinh nhật và công nhận Nghĩa Tử Phạm Hòa tại Nam California


Qua những hình ảnh trong Blog http://LeQuangLuong.blogspot.com
Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng rất yêu quý sinh họat QLVNCH cho đến ngày cuối đời, ông dặn dò mọi người trong gia đình trong đám tang ông muốn đơn giản không linh đình để tỏ lòng tri ân đến những anh hùng của QLVNCH đã nằm xuống trên quê hương.
Ông không hề dặn dò gia đình không làm lễ Phủ Quốc Kỳ VNCH họac cấm quân nhân mặc quân phục tham dự trong đám tang của ông. Tôi và Thiếu Úy Trần Việt Huệ Nha Kỹ Thuật đã làm nghi thức gấp quốc kỳ VNCH và dâng lên bàn thờ của trước sự chứng kiến của Bà Lê Quang Lưỡng và mọi người trong gia đình. Khi bà Lê Quang Lưỡng biết tin không có lễ phủ quốc kỳ cho ông, bà và người con gái lớn đã giận dữ khi nghe tin này.
Người em gái của Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng và 2 vị Sĩ Quan Nhãy Dù mà ông đã không liên lạc trong những ngày cuối đời của ông đã không hội ý Bà Lưỡng cho những quyết định lầm lẫn này.
Trong khi tham dự đám tang của Trung Tướng Nhảy Dù Dư Quốc Đống bà Lê Quang Lưỡng đã ân cần và nói lời xin lỗi của Má đến việc không phủ quốc kỳ VNCH cho Ba con và 2 vị Cựu Sĩ Quan Nhảy Dù  gây khó khăn cho chúng tôi khi mặc Quân Phục Nha Kỹ Thuật và làm lễ gấp quốc kỳ VNCH trước Linh Cữu của Cố Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng.

Ông là môt Sĩ Quan Tác Chiến từ lúc ra trường với chức vụ Trung Đội Trưỡng cho đến lúc ông là Chuẩn Tướng Tư Lệnh Sư Đòan Nhảy Dù. 
Trong 21 năm chiến tranh Việt Nam, biết bao máu của chiến hữu ông đã đổ xuống cho quê hương Việt Nam thân yêu
và ông chứng kiến biết bao Lễ Phủ Quốc Kỳ VNCH của đồng đội.
Ông yêu quý chúng tôi và muốn được làm người Ba của chúng tôi vì ông yêu bộ quân phục và những sinh họat Vinh Danh QLVNCH mà ông luôn gặp chúng tôi trong những sinh họat CQN/QLVNCH tại Nam Cali .

Những tin tức luân lưu trên Internet về lời trăn trối của ông
không muốn phủ Quốc Kỳ VNCH trong đám tang và cấm mặc Quân Phục trong đám tang ông là ngụy tạo và phản sự thật.
và ngưng ngay các tin tức vô trách nhiệm đến người quá cố.


Trân trọng,

Nghĩa Tử Cố Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng
Cựu Thiếu Úy Phạm Hòa Đ72/SCT Nha Kỹ Thuật
Gia Đình Nha Kỹ Thuật 
Founder Hội Bảo Tồn Truyền Thống QLVNCH
Founder Gia Đình Nha Kỹ Thuật 
 

Thiếu Úy Trần Việt Huệ và Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng


Bài đọc của Nghĩa Tử Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng trong đám tang tại Bakerfield California



XIN DÂNG TẶNG ĐẾN LINH HỒN THIẾU TƯỚNG LÊ QUANG LƯỠNG
(21 Tháng 9 năm 2005)


Ba thương mến,
(một trong những hạnh phúc nhất của Ba là đọc thư con cháu, hôm nay xin mạn phép cùng quý vị, để gửi đến Ba tôi những tâm tình chia sẽ thành thật kính chào và cám ơn quý vị)
Con gặp lai Ba trong những khoãng cui của cuộc đời, thời gian tuy ngắn ngủi nhưng thật trọn vẹn, những hình ảnh đẹp sẽ mãi mãi ghi sâu vào tâm thức và s lưu lại với con. Ba mươi năm trước đây Ba đã giã từ cuộc chiến và cuộc chiến ấy vẩn âm thầm theo đuổi trong tâm trí, trong từng hơi thở, trong nhịp đập của con tim, những thổn thức đêm dài, cho thân phn, cuộc đời và hôm nay cũng vừa tròn ba mươi năm, Ba đã thực sự ra đi, từ giã trong cái nhẹ nhàng và để lại cho gia đình, má và các con nhiều nhớ thương vô vàn miên viễn.
Tiễn Ba đi hôm nay con mặc chiếc áo mà 30 năm trước khi rời quê hương một chiến hữu đã trao tặng trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến Việt Nam, con đã ấp ủ và mang theo như tình thương trìu mến Ba đã dành cho con, chiếc áo tuy sờn vai, theo tháng năm và giòng đời nghiệt ngã của nó nhưng vẫn còn tồn tại như lòng sắt son của Ba, tuy bạc màu nhưng vẫn gi được nét hùng tráng của một thời oanh liệt xa xưa, chiếc áo cũng là biểu tượng của Ba đã trao cho con, vẫn cái tinh túy của một chiến sĩ, một con người và tình thương cho nhân loại.
Chiếc mủ đỏ với cánh dù mà con đội trên đầu hôm nay cũng vừa tròn 30 tuổi , cánh dù tuy đã tả tơi nhưng vẫn âm thầm che chở , cho vận mạng và cuộc đời còn lại, như cánh dù của Ba cũng tung bay khắp miền quê hương đất nước và che ch cho gia đình cho đồng đội và bảo bọc tình yêu quê hương đất nước.
30 năm ba sống cuộc đời thầm lặng để bão tồn khí khái của một chiến sĩ quân lực Việt Nam Cộng Hòa, cũng như nhiều người đã thường hỏi con, Anh Hùng của Quân Lực Việt Nam cộng Hòa là ai ? con trả lời họ nhiều lắm, ở chung quanh ta, ở khắp mọi nơi, họ chiến đấu anh hùng trong cuộc chiến và sống rất thầm lặng sau cuộc chiến, rồi ra đi âm thầm mang theo tất cả vào lòng đất.
Tiễn Ba đi hôm nay không có nghi lễ trang trọng như lời Ba thường nhắn nhủ mọi người trong gia đình, Ba muốn dành những trang trọng đó cho những Chiến Sĩ và anh hùng đã nằm xuống trên quê hương, con ch gữi đến Ba Lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa mà Ba thường ấp ủ trong tim, một cánh Dù để Ba tung bay trên khắp mọi miền của Đất Nước, Ba sẽ về thăm lại bao chiến hữu của Ba hơn một lần đã nằm xuống trên quê hương, với ôm ấp đem tự do và an lành cho nhân loại.

Con xin chúc Ba được
THƯỢNG LỘ BÌNH AN và TỔ QUỐC GHI ÂN .


Con của Ba
Thiếu Úy Phạm Hòa
Trưởng Toán Thám Sát 723 / Nha Kỹ Thuật / QLVNCH




Friday, September 2, 2016

MỘT CHỊU ĐỰNG LẶNG LẼ / Phan Nhật Nam 9/1964

Chúng tôi rời Sài Gòn trong thở dài nhẹ nhõm, một tháng ở Thủ Đô đủ để tạo thành sụp đổ tan hoang trong lòng, đủ thấy rõ sự phản bội của hậu phương, một hậu phương lừa đảo trên máu và nước mắt của người lính. Một tháng đủ để chúng tôi hiểu ti tiện hèn mọn của loại lãnh tụ ngã tắt, những anh hùng đường phố, những ông vua biểu tình theo ngẫu hứng, vua tôn giáo đầy thù hận và dục vọng… Một tháng “vỡ mặt” lính non cũng như lính già. Chúng tôi bây giờ biết rõ: Máu và đời sống của mình đã đổ ra cho một xã hội lừa lọc.
Thủ Đô! Tôi đi xa không luyến tiếc. Quá đủ những con đường Sài Gòn đêm vắng vẻ, dây kẽm gai chằng chịt, lựa đạn cay xót xa nước mắt. Đã quá đủ với Sài Gòn những buổi trưa nóng như thiêu đốt, áo giáp, nón sắt, mặt nạ, người lính đứng cô đơn trong sỉ nhục căm thù của đám đông nhân danh Tổ Quốc và Thượng Đế… Sài Gòn, chúng tôi thù ghét và ghê tởm Thủ đô đục ngầu phản bội và thù hận. Tôi ao ước một cơn hồng thủy sẽ cuốn trôi thành phố sau lưng, một cơn hồng thủy xóa hết dấu tích nhơ bẩn mà Thủ đô đã bôi lên khuôn mặt bi thảm của quê hương. Tôi ao ước được quên một thành phố tên gọi Sàigòn.

https://i0.wp.com/i599.photobucket.com/albums/tt77/hinhvietnam/ND/63gf.jpg
Xe chạy ra khỏi thành phố hướng về Tây Ninh. Trời xanh, không khí thoáng đãng, tôi thèm được đi xa. Đến Hóc Môn, đoàn xe dừng lại để lính nhảy xuống mua các thứ lặt vặt cần thiết cho cuộc hành quân. Sau hai tháng căng thẳng trong sự chết và bạo động, người lính bây giờ được thả xuống giữa quận lÿ sầm uất chất phác. Họ thỏai mái dễ chịu như trở về thế giới quen biết. Chúng tôi phải trả nợ nghiệp lính bằng năm ngày hành quân trước khi trở về hậu cứ. Từ Hóc Môn đoàn xe đi dọc theo liên tỉnh lộ 15 hướng về phía bắc, xe chạy trong cánh đồng mênh mông, sau hơn một tháng bị nhốt chặt trong thành phố ầm ĩ nay được thả ra cùng đất trời rộng rãi, lòng tôi mở ra như cơn gió reo. Đến ấp Đông Nhất cách Hóc Môn mười cây số, dừng lại xuống xe. Một tiểu đoàn bộ binh đã có mặt từ trước đợi chúng tôi. Hai tiểu đoàn sẽ xuất phát từ đây, xâm nhập theo con đường liên tỉnh hướng tây-bắc để giải tỏa áp lực địch tại vùng Bến Cỏ. Hai đơn vị đã dàn xong đội hình, lấy con đường làm chuẩn, tiểu đoàn bạn bên trái, chúng tôi bên phải, mục tiêu là làng Paris Tân Qui, nơi gặp gỡ của đường liên tỉnh 15 và hương lộ nối từ Ấp Nhà Việc với Củ Chi. Đại đội 74 dẫn đầu, đại đội chúng tôi đi chót, trung đội tôi đi cuối cùng. Mười phút đã qua, chúng tôi vẫn chưa di chuyển được thước đất nào, rảnh rỗi tôi lấy khẩu cầm ra thổi, tiếng trầm bỗng loang xa trên cánh đồng chơi vơi như cánh chim nhàn hạ… Bỗng súng nổ, một tràng ngắn, tiếp theo những tràng đại liên ròn rã ở phía đầu tiểu đoàn bộ binh. Cuộc chạm súng kéo dài khoảng mười phút, địch chỉ muốn trì hoãn bước tiến đoàn quân để chạy trốn. Mười hai giờ trưa đến Paris Tân Qui, làng nhỏ bao bọc chung quanh bởi rừng cây cao su xanh ngắt. Địa danh thật đặc biệt, không hiểu do sự nhầm lẫn của người lập bản đồ hay do một anh Tây nào đó trong lúc nghịch ngợm đem tên của Thủ đô ánh sáng đặt cho làng nhỏ này. Tiếp tục tiến quân lên Bến Cỏ, quận lÿ đặt cuối đường liên tỉnh, bên kia suối Bến Nây. Cầu đã bị giựt sập, tiểu đoàn dừng lại bố trí quân dọc theo đường đá đỏ. Đại đội 72 đi đầu cho một vài khinh binh qua dò đường. Trời ủ giông, nắng quái mây mù, con đường vắng như một nỗi thê lương… Nếu không có chiến tranh, từ đây về Sài Gòn chỉ khoảng nửa giờ xe đò, những con đường nhỏ này là mạch máu của miền Nam nối liền Thủ đô với thôn xóm trù phú. Ruộng ở đây không bát ngát bằng những tỉnh ở miền Tây, nhưng mạnh và tươi tốt. Nhìn đồng lúa mới thấy rõ sức chịu đựng dẻo dai triền miên của dân tộc. Nhớ bài chính tả của mười hai năm trước — Đồng lúa mới… Tôi đến một vùng quê, kề bên trận địa, cánh đồng loáng nước nằm dài vắng bóng người nông phu cần mẫn, nhìn vào thôn xóm không một bóng người, khóm tre xơ xác, mái tranh im lìm… Sáng mai thức dậy, đố ai biết có những gì thay đổi, cánh đồng vắng vẻ ngày hôm qua nay đã xanh rì ngọn mạ… Bài chính tả của lớp nhì biến thành bài học thuộc lòng. Ông giáo cuả tỉnh nhỏ, thầy Tiến, trường Hoàng Diệu, dáng người mập mạp, nhưng bỗng nhiên khuôn mặt hóa nên linh động khi giảng nghĩa cho lũ học sinh nhỏ, sức chịu đựng nỗi kiên nhẫn của những người nông phu, đêm trở về trên cánh đồng vắng, cắm những cây mạ xanh trong lòng đất còn mùi thuốc súng… Cánh đồng ở đây cũng loáng nước, mái tranh thôn xóm tiêu điều xơ xác, nhưng thân lúa xanh vẫn mọc lên phơi phới. Tôi rung động trong niềm cảm phục quê hương, những người nông dân Việt Nam cuối tận cùng của khổ cực luôn luôn thắp sáng cho mình hy vọng. Nhớ đến bàng hoàng dáng dấp của thầy tỉnh lẻ, một ông giáo bình thường nhưng đã gieo vào hồn tôi những rung cảm kỳ diệu khi bằng giọng nói của người dân xứ Quảng với quê mùa mộc mạc, thầy Tiến vẽ trong đầu óc trẻ thơ một hình ảnh lặng lẽ nhưng hào hùng của dân tộc. Cảm giác này cũng tương tự như khi đọc Sơn Nam với những câu ca dao… Ra đi gặp vịt cũng lùa, gặp duyên cũng kết, gặp chùa cũng tu… Cảm ơn đời trong tuổi nhỏ đã có người tặng cho những đóa hoa dịu dàng, những lời ca ngợi quê hương. Người Đại Hàn tượng trưng cho dân tộc của một đóa hoa, Trung Hoa, Nhật Bản lấy biểu tượng ở mặt trời… Tôi ao ước được trông lại biểu tượng cây lúa của dân tộc. Cây lúa bình thường đầy kiên nhẫn.
Ba người khinh binh đi đầu tiến ra được giữa cầu, cầu bị gãy, họ phải bò theo những thanh sắt, một loạt đạn từ bờ bên kia bắn vụt qua. Đạn chạm vào thành cầu long cong, một người lính lảo đảo rơi xuống, hai người kia vội vàng chụp lấy bò trở về. Súng cối của tiểu đoàn bắn về phía có tiếng nổ năm trái… Ba người khinh binh khác được đề cử qua cầu, dưới sự yểm trợ của súng cối 60 và 81 (1) trong lúc súng cối  tạm ngưng vì tháo đạn chưa kịp, Việt Cộng ở bên kia bờ lại bắn qua tới tấp.
Hai người lính ở sau bò lại, chỉ một người qua được bên kia bờ. Không thể làm im được toán Việt cộng bên kia bằng súng cối, mặc dù chúng chỉ ước chừng một tiểu đội, nhưng hầm hố kiên cố đạn súng cối chính xác đến đâu cũng không phá hủy được. Hơn nữa số đạn mang theo giới hạn. Bộ chỉ huy tiểu đoàn quyết định gọi máy bay đến oanh tạc đồng thời đề phòng trường hợp địch tập trung đông. Ba Skyraider (2) bay một vòng để chỉ định mục tiêu. Khói trắng vừa bốc lên khỏi lũy tre, chiến đấu cơ hạ thấp độ cao đâm thẳng xuống, cả một khu bìa làng bị cầy tung đất khói và lửa bốc thành những chiếc nấm lớn. Năm giờ chiều, người chót của tiểu đoàn mới qua hết con suối, ngôi làng con âm ỉ cháy, mùi lá tươi bị đốt nồng nặc. Chúng tôi đóng quân đêm tại đây, cứ điểm Bến Cỏ nằm sau lưng không đầy một cây số. Ngày mai chúng tôi sẽ vào đấy giao tiếp với một tiểu đoàn Biệt động quân bị cô lập suốt sáu tháng nay.
https://i0.wp.com/i599.photobucket.com/albums/tt77/hinhvietnam/ND/nhduchkhuD.jpg
Bảy giờ sáng, tiểu đoàn bắt đầu di chuyển, đoạn đường xuyên qua làng mạc dày đặc vườn cây ăn trái và nhà cửa. Đường liên tỉnh 15 chạy từ Hốc Môn đến Bến Cỏ chia làm hai nhánh, một đường chạy lên hướng bắc gặp bờ sông Sài Gòn, từ đây chạy song song với con sông lên đến vùng Bến Súc rồi ra Trãng Bàng. Một nhánh ngắn hơn từ Bến Cỏ chạy ra Củ Chi. Bốn cứ điểm Bến Cỏ – Bến Súc -Trãng Bàng – Củ Chi tạo thành khu tứ giác mật khu Hố Bò nằm song song với mật khu Bời Lời ở bờ phía bắc sông Sài Gòn. Cứ điểm Bến Cỏ như một cái nút chận đường xâm nhập của địch về Gia Định nên từ lâu địch đã vây kín và pháo kích vào hằng ngày. Chúng tôi tiến quân thật dè dặt, một đơn vị bạn trước đây đã bị phục kích ngay tại khu làng này khi muốn “bắt tay” (1) với đơn vị trong đồn, hôm đó pháo binh và phi cơ không thể can thiệp được, trong khi địch có đủ công sự phòng thủ và giao thông hào dày đặc trên lộ trình vào cứ điểm. Hai đại đội đi đầu không dám đi trên đường vì sợ mìn, khi đi qua các khu vườn mọi người đều ngán ngẩm, địa đạo và giao thông hào đào chi chít, nếu địch phục kích chúng tôi tại đây thì khó lòng chống trả. Vòng rào dây kẽm gai và cột dây trời của đồn hiện ra trong tàn cây xanh. Thật thận trọng, tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho từng đại đội một tiến vào hàng rào phòng thủ, hai người lính Biệt động quân ra mở cổng… Cứ điểm gồm có hai phần, chiếc đồn chính nằm ở phía trái của con đường, bộ chỉ huy tiểu đoàn Biệt động quân đóng chung với một đại đội Địa phương quân tại đây; đồn là một loại bót nhỏ của lính Pháp để lại, tường gạch rêu phong ba tháp canh trơ trọi đứng ba góc, chung quanh đồn là tuyến phòng thủ của ba đại đội tác chiến, những người lính Biệt động quân đào hầm ở ngay trên tuyến phòng thủ. Đối diện chiếc đồn là ngôi chợ nhỏ, hai bên đường nhà thường dân san sát vào nhau, phần lớn cửa đóng, người dân đã di cư về Bình Dương hay Sài Gòn. Có những danh từ nghe thoạt tiên rất vô nghĩa, nhưng nếu với hoàn cảnh, không khí thì thích hợp, những chữ nghĩa khô khan kia hóa nên linh động hẳn ra như một nốt nhạc. Ở đây, Bến Cỏ không thể có một tên gọi nào thích hợp bằng “phố chợ”, không thể gọi là quận lỵ, thị trấn, cũng không hẳn là một cứ điểm đúng nghĩa danh từ quân sự… Một tiểu đoàn lính bao một đám dân, con đường, ngôi chợ, hai dãy nhà cửa, cây bàng xanh tươi bóng mát, vài quán hàng bán những thức lặt vặt. Bến Cỏ không có nét trẻ trung, vui vẻ của những phiên chợ thôn quê, đây không khí tang thương, khắc khoải như một bệnh nhân bị gậm mòn dần bởi chứng nan y. Chúng tôi ra đóng quân ở phía đông của cứ điểm. Những buổi sáng lính thường vào uống cà-phê ở chiếc quán dưới gốc cây bàng, những người lính ngồi đối diện với nhau lặng lẽ. Con đường vắng hoe lác đác dăm chiếc lá khô, điểm sinh động duy nhất là quán hủ tiếu của một người Tàu. Người Trung Hoa trong hoàn cảnh nào cũng đứng đầu bởi sức chịu đựng, nhưng người Việt cũng đâu kém. Chúng tôi đóng quân được hai ngày, tình hình im lặng, im lặng ngột ngạt trước trận đánh. Cứ điểm đã bị bao vây suốt sáu tháng, quân số phòng thủ của tiểu đoàn Biệt động quân bây giờ chỉ còn hơn hai trăm. Việt Cộng đào hào thông hào đến sát hàng rào phòng thủ, chúng không tấn công chỉ bắc loa chửi, bắn sẻ, pháo kích… Chiến thuật này đã làm tiêu hao quân số của đơn vị bạn. Cách hay nhất là đề phòng, nhưng ai có thể kéo dài tình trạng đề phòng trong sáu tháng. Ngồi uống nước, nghe tiếng súng cối cuả địch, nhảy xuống hố không kịp thế là bị thương. Gác ở chòi canh, tuần tiễu ra khỏi hàng rào một trăm thước, khinh binh coi như đã treo đời mình trên một đường dây mỏng manh. Giao thông hào đào sát vào con đường từ đồn đi ra, tỏa chi chít khắp nơi, kín đáo chắc chắn. Người khinh binh làm sao biết được mũi súng ở hướng nào nhắm vào mình! Sáu tháng, những người lính Biệt động quân bây giờ trở nên dửng dưng, họ đã đến chót cùng chịu đựng. Ngay đến chúng tôi, những người mới tới, bằng bao nhiêu cẩn thận cũng không tránh khỏi thiệt hại. Đang nói chuyện với nhau trong vòng phòng thủ, một viên đạn bất chợt bay đến, binh nhất Phòng của đại đội 72 ngã xuống chết không ngờ. Viên đạn xuyên thủng bàng quang chấm dứt đời kẻ bạc phước trong vòng một phút. Từ chỗ đóng quân vào chợ, đoạn đường không quá ba trăm thước, nhưng cũng không an toàn. Bất cứ lúc nào, khi toán giữ đường không cẩn thận là có kẻ ngã gục bị bắn sẻ. Việt cộng rình rập chúng tôi – đêm nay? ngày mai? – Chúng tôi chờ đợi phút hồi hộp đó. Đóng quân được bốn ngày, chúng tôi nhận được lệnh rút ra ngã Củ Chi, vẫn lấy con đường liên tỉnh 15 làm chuẩn, tiểu đoàn chúng tôi đi bên phải, tiểu đoàn bộ binh đi bên trái. Lộ trình rút ra xuyên qua khu đồn điền cao su Fihoc, hành lang xâm nhập vào mật khu Hố Bò. Chúng tôi không biết những người bạn Biệt động sẽ ra sao, họ ở lại chờ một tiểu đoàn khác đến thay thế, hay tiếp tục để nhận một cái chết mòn mỏi chậm chạp? Có thể các vị chỉ huy ở cấp lớn đã nghĩ rằng: Chúng tôi đã có mặt bên ngoài trong bốn ngày vô sự vậy là áp lực địch được giải toả, bây giờ họ đang có những vấn đề to lớn khác cần phải giải quyết ở Sài Gòn trong đường Trần Quốc Tỏan, ở Đài phát thanh. Thôi, tiểu đoàn Biệt động quân, các bạn hãy ở lại và tiếp tục như sáu tháng đã qua. Sáu tháng chỉ thèm một cục nước đá, phần đời của các bạn như vậy đã được định. Tôi nghĩ đến chiếc bánh mì và nải chuối cuả một mụ nạ giòng đem đến tặng cho lính ở Đài phát thanh để tri ân quân đội giúp đỡ đạo pháp…
Bảy giờ, hai tiểu đoàn song song rút ra. Đại đội tôi cùng đại đội 73 đi đầu tiểu đoàn. Đại đội 73 đi phía tay mặt tôi, Toàn “đen” dẫn đầu, tôi nói với Đỗ, anh chàng “Eddie Constantin”:
– Thằng Toàn đi đầu thế nào cũng đụng.
Có thể lắm, mặt nó có cô hồn… Vừa di chuyển được ba mươi thước một loạt đạn nổ ròn rã trước mặt. Hạ sĩ Thặng khinh binh đi trước tôi ngã xuống, hai viên đạn bẻ gãy khẩu AR 15 đồng thời làm cườm tay anh gãy đôi. Việt cộng thật ra nhắm vào tôi vì cầm tấm bản đồ, nhưng Thặng vừa qua mặt nên lãnh lấy, hai viên đạn đáng lẽ ra đâm thủng cơ thể tôi… Một thoáng rùng mình, đạn bắn thấp, nếu không gãy chân thì cũng thủng bàng quang. Tôi nhớ đến cái chết của thằng Phòng hai ngày trước, chút xíu nữa thì mạng tôi cũng xong rồi! Vết thương của Thặng không nặng lắm, cây súng đã đỡ lấy hai viên đạn, cả anh và tôi đều may mắn. Tăng Màn Tài, trung đội phó khẽ nói với tôi:
– Thiếu uý, hôm nay đụng a, sáng nay tôi nấu cơm không chín.
Tôi cười không nói, nhưng lòng đầy lo ngại… Cánh quân chúng tôi và bộ binh tiếp tục di chuyển về phía Bến Mương. Mười giờ – binh nhất Niên – khinh binh đi trước tôi đột nhiên nhảy hẳn qua một bên, bắn một loạt súng…
– Cái gì vậy?
– Thiếu uý, em thấy trước mặt có người!
– Việt cộng đó, coi chừng.
Buổi sáng lúc xuất quân đã có người dân đến báo: Việt cộng ở khu rừng cao su rất đông, đào hầm để đợi chúng tôi. Tiểu đoàn trưởng quyết định chấp nhận trận đánh, cả chúng tôi và bộ binh đều sẵn sàng tác xạ khi di chuyển. Niên hét lớn:
– Đưa tay lên, tiến tới.
Trong lá xanh hiện ra một người mặc quân phục màu xanh đeo ba-lô mặt mày ngơ ngác. Y là một binh sĩ của tiểu đoàn bộ binh, chúng tôi không biết tại sao anh ta đi lạc và không có súng. Chúng tôi giao cho ban 2 tiểu đoàn để điều tra. Chính trong những giờ phút dừng lại để bắt giữ người lính kia, sau này tôi mới biết đã cứu mạng cho toàn thể trung đội tôi. Vì trong khi chúng tôi dừng lại, đại đội 73 phía tay phải vẫn tiến tới để bắt gặp con đường mòn cách đó trăm thước và chính trong lúc này thì trận đánh bắt đầu, phía tiểu đoàn bộ binh và đại đội 73 súng đại liên nổ ròn rã không dứt, chúng tôi vội vã dàn hàng ngang chờ đợi.
Đạn bay trong không khí về phía chúng tôi, lá cao su trên đầu bị bắn tung bay xào xạc, đạn ghim vào thân cây nghe phầm phập, có tiếng hô xung phong nhưng không thấy bóng dáng của địch. Đại đội trưởng tôi hét lớn trong máy:
– Bên bộ binh và 73 đều đụng nặng, anh có chịu nổi không?
– Báo cáo tôi vô sự.
– Coi chừng, tụi nó đánh độn thổ! Bộ binh bị phục kích rồi đấy.
Mười lăm phút sau, đại đội 73 từ bên cánh phải rút về phía chúng tôi. Toàn bị thương, người nhăn nhó đau đớn, hắn phều phào…
– Mày coi chừng, tụi nó sắp xung phong vào đấy.
– Tao đâu có thấy gì?
Một rừng lá cây chuyển động trước mặt, vài bóng dáng áo đen thấp thoáng. Trung đội tôi và Kỳ đồng loạt khai hỏa, năm mươi cây súng bắn ra một lượt, khói hơi thuốc súng bay nồng nặc. Chúng tôi tiến quân từ từ lên sau mỗi đợt tác xạ. Tôi giật nẩy mình, một hàng giao thông hào mới đào, lá cây ngụy trang còn xanh tươi, vỏ đạn rơi đầy ở trên mỗi miệng hầm, đúng là một phép mầu… Việt cộng đã đào hầm hố để phục kích chúng tôi, may nhờ người lính bị bắt nên trung đội tôi đã dừng lại và vô tình tránh được cái bẫy đang chờ. Bây giờ mới hiểu tại sao có loạt đạn bắn về phía chúng tôi nhưng không có địch xuất hiện. Việt cộng sau khi đã chận đầu tiểu đoàn bộ binh và chúng tôi, vòng ra đàng sau đánh tạt vào hông phải của tiểu đoàn nơi đại đội chỉ huy và 74. Mặt trước của chúng tôi và 73 tạm yên, tôi cho lính chiếm hết dãy giao thông hào, một vài xác Việt cộng chết trong vị thế đang chạy, họ thuộc lính chính quy trang bị đầy đủ súng đạn nhưng không mang gạo. Đúng là tụi nó sửa soạn sẵn để đợi chúng mình… Lính xì xào bàn tán. Phía sau chúng tôi bây giờ súng nổ mạnh, 57 của tiểu đoàn bắn ra liên tiếp, đạn nổ tiếp theo liền tiếng départ chứng tỏ địch rất gần hàng quân. Tôi nghe rõ tiếng hô xung phong của hai bên chen lẫn tiếng chửi thề… Toàn từ dưới chạy lên…
– Mẹ kiếp, bị thương nằm cũng không yên, tụi nó tới sát rồi mày ạ!
– Ông xui quá ông ơi, đi đâu là đụng đó. Ông tới chỗ nào cũng có máu chảy…
– Mẹ mày – Nó chưởi thề phản đối.
Đúng như vậy, đi chiến đấu mới thấy có may rủi không lường. Có những cái chết thật gần, nhưng tránh khỏi, đồng thời có những cái chết thật bất ngờ, tự nhiên đến không dấu hiệu. Tôi đâm tin vào định mệnh, về một sức mạnh siêu hình chi phối đời sống con người. Như cái chết của thằng Phòng hai ngày trước. Buổi chiều chúng tôi đang ngồi nói chuyện gẫu với nhau, nó từ đâu lại ngồi đối diện với tôi. Chính ngay lúc đó, một viên đạn vu vơ từ ngoài hành rào phòng thủ bắn vào, nó chết trong khi đang mở miệng định nói. Cái chết ấy đã làm tôi thấy rõ đời sống nhỏ nhoi, bèo bọt của kiếp người. Sống đó, chết đó, nào ai biết… Cũng như trường hợp hôm nay, nếu không bắt gặp người lính bộ binh, chắc chắn tôi và hai khinh binh đi đầu sẽ hứng hết đoạn đạn đầu tiên khi địch khai hỏa. Và nếu tôi có chết đi, thì có gì thay đổi? Tôi không có gia đình, không thân thích. Cái chết chỉ là bọt sóng nhỏ vỡ tan trong đại dương…
https://i0.wp.com/i299.photobucket.com/albums/mm320/revengeseeker02/f.jpg
Địch định cắt đôi tiểu đoàn chúng tôi, nên chúng tấn công thật mãnh liệt vào đoạn giữa, đại đội chỉ huy phải chống lại vô cùng vất vả, 74 đi chót lại bị cầm chân nên không thể kéo lên gỉai toả áp lực địch được. Tiểu đoàn trưởng phải gọi pháo binh bắn thật gần tuyến chiến đấu… Gunship được gọi đến tăng cường. Đại uý Ánh, sĩ quan hành quân của tiểu đoàn trong khi đứng quan sát để hướng dẫn phi cơ bị một viên đạn vỡ tan lồng ngực. Tin ông chết làm mọi người bàng hoàng, ông được cảm tình của hầu hết mọi người vì tánh tình hòa nhã, riêng tôi, những lần trước khi phải trình diện tiểu đoàn trửơng để nhận lệnh phạt thường phải gặp ông, trong những giây phút nặng nề đó, lời nói nhẹ nhàng của ông như một an ủi làm nhẹ đi nhiều phiền muộn. Tôi không biết ông nhiều, nhưng nhớ đến những buổi chiều, ông đứng ở bờ sông Biên Hòa trông cô đơn và lặng lẽ lạ lùng. Đại tá Tư lệnh và Bác sĩ Y sĩ trưởng sư đoàn đáp máy bay xuống trận địa còn nồng mùi thuốc súng. Tôi thấy nét mặt cuả bác sĩ Của cau hẳn lại khi ông đến gần xác đại uý Ánh. Tiểu đoàn tiếp tục di chuyển đến cầu Bến Mương bên kia là bãi nhảy Củ Chi, cầu bị sập binh sĩ phải qua từng người một. Trung đội tôi ở lại cuối cùng để bảo vệ tiểu đoàn qua cầu. Trời ngã về chiều và khi chúng tôi nhận được lệnh rút đi thì địch từ mé làng xung quanh bắt đầu bắn ra. Những viên đạn đỏ vạch từng đường đài trong bầu trời thẫm màu, biết chắc rằng chúng chỉ bắn phá quấy chứ không thể tấn công vào chúng tôi được. Khẩu đại liên của trung đội qua cầu được đặt trên một mô đất nhắm về phía làng, cứ chỗ nào nháng lưả là người xạ thủ bắn lại phía đó. Trận đánh như trò chơi, Việt cộng trong làng chõ loa ra chưởi bới, tôi đứng trên mô đất khum tay làm loa chửơi lại. May mắn trong suốt cuộc hành quân làm tôi tin tửơng vào mình hơn bao giờ hết. Quả thật vậy, khi trung đội qua hết con  suối trời tối hẳn, Việt cộng từ trong làng chạy ra lố nhố… Chúng tôi vừa bắn vừa chạy lùi về phía Củ Chi. Bãi nhảy dù bát ngát phủ đầy lá đậu phọng, trung đội chạy nhanh để đuổi kịp toán quân đi đầu, ai nấy đều vui vẻ vì cho rằng đã được may mắn. Khi ra đến đường ba người lính trút ba-lô ra, ba-lô bị đạn xuyên thủng lỗ chỗ.
– Đ.m hên đếch chịu được, đạn trúng giờ nào mà không hay!
– Nhờ cái hên của ông thiếu uý đó mày.
Tôi leo lên xe ngồi, trời tối đen ở bên ngoài, trong lòng xe muỗi vo ve nhưng không buồn cử động để đuổi đi. Đời sống người lính qủa thật tội nghiệp, trong tận cùng nguy biến họ luôn tạo cho mình hy vọng dựa vào một may mắn mỏng manh… Bao giờ hết may mắn đó sự chết ắt gần kề chạm phải. Đời sống của chúng tôi đó, trên biên giới sự sống, cái chết.

Tháng 9-1964
Phan Nhật Nam

Sunday, August 21, 2016

Trận Long Tân 1966 và nhạy cảm chính trị 2016

Hà Tường Cát/Người Việt
VIỆT NAM (NV) – Chính quyền Việt Nam trước đây đồng ý việc tổ chức kỷ niệm 50 năm trận chiến giữa quân đội Australia với Việt Cộng ở đồn điền cao su Long Tân tỉnh Phước Tuy, nhưng đến giờ chót thay đổi quyết định và chỉ cho phép hành lễ trong một quy mô nhỏ.
Sự kiện này trở thành vấn đề được thương lượng ráo riết và gây nhiều tranh luận trong mấy ngày qua khi có khoảng 2,000 dân Australia bao gồm cựu chiến binh và gia đình họ đã đến Vũng Tàu chuẩn bị dự lễ.
Trận Long Tân xảy ra trong ba ngày tháng 8 năm 1966, là trận gây thương vong nặng nề nhất cho đơn vị quân đội Australia trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam.
Australia bắt đầu tham gia vào chiến tranh Việt Nam từ 1962 với 30 cố vấn quân sự; vào thời gian cao điểm của chiến tranh quân số lên tới 7,672 và tính tới khi triệt thoái hoàn toàn năm 1973, khoảng 60,000 quân nhân Australia đã phục vụ tại Việt Nam.
Đơn vị chiến đấu đầu tiên đến Việt Nam vào tháng 6 năm 1965 là Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 1 Bộ Binh, địa bàn hoạt động tại tỉnh Biên Hòa phối hợp với Lữ Đoàn 173 Không Vận Mỹ và một pháo đội New Zealand. Do có những bất đồng ý kiến về quan điểm chiến thuật, quân đội Australia sau đó đi đến quyết định đảm nhận một khu vực trách nhiệm riêng.
Tháng 4 năm 1966, lực lượng đặc nhiệm số 1 của Australia được đưa đến tỉnh Phước Tuy và đặt căn cứ tại Núi Đất, cách Bà Rịa khoảng 5 dặm về hướng Đông-Bắc. Để thành lập căn cứ này, Chuẩn Tướng O.D. Jackson, với sự đồng ý của tỉnh trưởng Phước Tuy, cho di chuyển khoảng 4,000 dân chúng hai xã Long Tân và Long Phước đi nơi khác. Hai xã này từ trước vẫn được coi là mật khu Việt Cộng, hoàn toàn bị phá hủy vào tháng 7 năm 1966. Căn cứ Núi Đất vào lúc cao điểm có khoảng 5,000 quân Australia, tuy nhiên hầu hết được điều phối đi các chiến dịch hành quân ngoài căn cứ.
Bộ Tư Lệnh Cộng Sản ngay lập tức quyết định đánh bại đơn vị quân Australia vừa đến nhằm gây được một tác động chính trị đáng kể. Kế hoạch của họ là tìm cách dụ quân Australia ra ngoài căn cứ rồi tiêu diệt bằng một lực lượng áp đảo. Trận Long Tân xảy ra trong tình huống ấy và có lẽ được tính toán vào cùng thời điểm với dịp kỷ niệm Cách Mạng Mùa Thu, 19 tháng 8 của Cộng Sản. Có thể chính sự trùng hợp ấy bây giờ là một yếu tố tế nhị khiến nhà cầm quyền Việt Nam cuối cùng từ chối không để Australia tổ chức kỷ niệm “50 năm chiến thắng Long Tân” quá trang trọng.
Đêm 16 và17 tháng 8 năm 1966, căn cứ Núi Đất bị pháo kích dữ dội làm 24 binh sĩ Australia bị thương. Ngày 18, Đại Đội D Tiểu Đoàn 6 được lệnh mở cuộc hành quân tuần tiễu khu vực đồn điền cao su Long Tân, khoảng 3 dặm phía Đông căn cứ. Trung đội 11 chạm địch lúc 3.15 giờ chiều nhưng quân Việt Cộng rút lui. Tới 4.08 giờ, giữa lúc trời đổ mưa lớn, Đại Đội D đụng một đơn vị lớn là Trung Đoàn 275 Việt Cộng đã bí mật di chuyển vào khu vực trong đêm trước. Địch quân tìm cách bao vây để tấn công dữ dội bằng hòa lực súng cối, đại liên, B-40 và AK-47.
Quân Australia gọi trọng pháo và phi pháo yểm trợ. Nhưng vì thời tiết xấu, máy bay không phân biệt được rõ mục tiêu, chỉ có trọng pháo từ Núi Đất bắn yểm trợ, đồng thời Đại Đội A Tiểu Đoàn 6 cùng với một trung đội thiết quân vận của Thiết Đoàn 1 được phái đến tăng viện. Trận đánh chấm dứt vào lúc 6 giờ 55 trước khi lực lượng tiếp viện đến nơi. Quân Việt Cộng tuy nhiên hãy còn ở trong đồn điền cao su Long Tân suốt đêm để thu nhặt đồng đội chết và bị thương. Quân Australia cũng rút về căn cứ và trực thăng tải thương được gọi đến chở các thương binh về quân y viện Vũng Tàu hay Biên Hòa.
Sau này người ta mới biết rằng khoảng 1,000-2,500 Việt Cộng thành phần quân chính quy chứ không phải du kích, đã không tiêu diệt được Đại Đội D tiểu đoàn 1 chỉ có 108 người vì sự chiến đấu quyết liệt của các binh sĩ Australia cùng kết quả tác xạ hữu hiệu của pháo binh Australia và New Zealand từ Núi Đất.
Tổn thất về phía Australia là 18 tử trận, trong số có trung úy chỉ huy trưởng Trung Đội 11/1, 24 bị thương. Phía Việt Cộng, 245 chết nhưng theo xác nhận chính thức của Việt Nam chỉ có 150. Đây là tổn thất nặng nhất của Australia trong một trận đánh ở Việt Nam. Quân đội Australia coi là chiến thắng khi đơn vị Đại Đội D Tiểu Đoàn 1 mới đến Việt Nam chưa đầy 3 tháng đã không bị tiêu diệt trong trận chiến chống một lực lượng đông gấp 10 lần. Và căn cứ Núi Đất tiếp tục là nơi an toàn trong suốt những năm chiến tranh Việt Nam.
Có nhiều tranh luận về việc nhà cầm quyền Việt Nam đã cho phép rồi lại đổi ý và giới hạn tầm mức của lễ kỷ niệm 50 năm trận Long Tân. Từ nhiều năm trước, cựu quân nhân Australia và gia đình vẫn đến thăm lại chiến trường Long Tân không có vấn đề gì khó khăn. Nhưng trong những dịp kỷ niệm 18 tháng 8 bình thường chỉ có khoảng 30-40 người tham dự.
Tờ Thanh Niên ở Việt Nam ngày 18 tháng 8, 2006 cho biết “có trên 300 du khách Úc gồm các cựu chiến binh và gia đình đã tham dự lễ kỷ niệm 40 năm trận đánh Long Tân tại Khu Thánh giá Long Tân, huyện Long Đất, Bà Rịa-Vũng Tàu.” Theo tờ báo: “Dự buổi lễ còn có ngài Bill Tweddell – đại sứ Úc tại Việt Nam, tổng lãnh sự Úc tại TP.HCM Mal Skelly, Tổng Lãnh Sự New Zealand Peter và đại diện Bộ Cựu Chiến Binh Úc. Trước đó, đoàn đã đến viếng nghĩa trang liệt sĩ Gò Cát của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, thăm địa đạo Long Phước, khu Núi Đất, đồi Gia Quy, căn cứ Minh Đạm, Xuyên Mộc. Được biết, tour du lịch kết hợp thăm chiến trường xưa của cựu binh Hoàng gia Úc do 3 công ty OSC Vietnam Tours, Vung Tau Tourist Corporation và South East Asia Tours đứng ra tổ chức.” Cây thánh giá do các quân nhân Australia dựng lên những năm sau ở đồn điền cao su Long Tân, bây giờ trở thành di tích lịch sử được Bộ Văn hóa Thông tin Việt Nam công nhận từ tháng 11, 1988.
Năm nay, kỷ niệm 50 năm, có lẽ Việt Nam không đồng ý để Australia tổ chức lớn như một kỷ niệm chiến thắng. BBC dẫn lời nhà sử học chiến tranh, Mat McLachian, cho rằng có thể tính chất ồn ào của sự kiện dẫn đến việc nó bị hủy bỏ. Ông nói với đài truyền hình ABC (Australia): “Tôi nghĩ vấn đề năm nay là chúng ta đã phạm chút sai lầm, chúng ta cố làm to quá và cuối cùng phía Việt Nam phải quyết định chừng đó là đủ rồi.”
Tối 17 tháng 8, Thủ Tướng Malcolm Turnbull điện đàm với Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc và Việt Nam quyết định cho phép các nhóm tối đa 100 người đến thăm và đặt vòng hoa tại địa điểm. Trước đó cảnh sát đã ngăn chặn lối vào Long Tân mà không cho biết lý do. Australia cho biết sự kiện này được thương lượng từ 18 tháng giữa hai nước và Việt Nam đồng ý phối hợp tổ chức, rồi thay đổi quyết định chỉ ba ngày trước. Bộ Ngoại Giao Australia nói họ đã gửi thư khiếu nại cho chính phủ Việt Nam vì “thất vọng sâu sắc trước quyết định, và cách tiến hành quyết định, quá gần dịp kỷ niệm.”
BBC cho biết một nhà bảo tàng của tư nhân tại Vũng Tàu có một gian dành riêng trưng bày các đồ vật quân sự, chủ ý dành cho cựu chiến binh và du khách Australia tới thành phố biển này nhân dịp kỷ niệm 50 năm trận Long Tân. Nhiều người tỏ ý tiếc về việc các giới chức Việt Nam không cho tổ chức lễ kỷ niệm như đã định. Nhưng tối 18 tháng 8, khoảng 800 người đã dự buổi gala dinner do đại sứ quán Australia tại Việt Nam tổ chức ở khách sạn Pullman, Vũng Tàu.
Tờ Sydney Morning Herald hôm Thứ Năm dẫn lời của cựu Thiếu Tá Harry Smith, đại đội trưởng Đại Đội D Tiểu Đoàn 6 bộ binh Australia, nói rằng: “Phải nên tôn trọng sự nhạy cảm của chính quyền và cựu chiến binh Việt Nam trong sự kiện này.” Cựu Chiến Binh Harry Smith nói ông thất vọng vì không tổ chức được lễ kỷ niệm 50 năm ở Long Tân, nhưng thông cảm với tính cách tế nhị do vụ này bị các nhà tổ chức và hãng du lịch làm rùm beng quá mức. (HC)

Friday, August 19, 2016

A SENSE OF DUTY: MỘT HỒI KÝ, HAI CUỘC ĐỜI

https://images-na.ssl-images-amazon.com/images/I/513MulPJdrL._SX332_BO1,204,203,200_.jpg

Cuốn sách mở đầu bằng: “Tôi mở mắt chào đời ở Việt Nam tại một bệnh viện Pháp cổ xưa sáu tháng trước khi tổng thống Hoa Kỳ  Lyndon B. Johnson  ra lệnh cho hàng ngàn Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đổ bộ lên đất nước chúng tôi..”. Đó là một thiên hồi ký của một cậu bé hồi nhỏ sống ở phi trường Tân Sơn Nhất với ước mơ thành một hoa tiêu vùng vẫy trời cao. Và cũng là những hồi tưởng từ hai đời người, một cha một con, cùng theo nghiệp bay bổng nhưng phục vụ đất nước khác nhau và trong những hoàn cảnh cá nhân khác nhau.Người cha luôn luôn là hình bóng đi bên cạnh đời người con với nét hào hùng của một người chiến đấu vì tự do và hiểu được ý nghĩa của tự do. Khi chiến đấu cho  đất nước,  trung  tá Phạm văn Hòa  bay chiến đấu cơ A1 sau  là  hoa tiêu vận tải  C130,  đã mang cả một thời tuổi trẻ của mình trong ước vọng thực hiện được lý tưởng của mình.  Cũng như khi chiến đấu cho đất nước Hoa Kỳ, đại úy Phạm Xuân Quang, một hoa tiêu trực thăng của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, cũng hiểu được giá trị của tự do và  nghĩ rằng đã được hưởng ân huệ của đất nước định cư thì cũng phải có nhiệm vụ  phải bảo vệ  đất nước ấy.

https://images-na.ssl-images-amazon.com/images/I/51NAoU3arSL._SX319_BO1,204,203,200_.jpg
Cầm tập hồi ký “ A Sense of Duty: My Father, My American Journey” của Quang X. Pham, tự nhiên tôi lại nhớ đến câu hát  “Hòn VọngPhu”. Ở đây, người cha, một phi công của Không Quân Việt nam, bay khu trục rồi chỉ huy một phi đoàn vận tải. Người con, tốt nghiệp đại học rồi gia nhập Thủy Quân lục Chiến Hoa Kỳ thành một phi công trực thăng. Chuyện ấy cũng có thể bình thường. Nhưng người con viết hồi ký về cuộc đời của cha mình và cũng là dịp để nhìn lại một cuộc chiến đã chấm dứt từ ba mươi năm nay, chuyện ấy mới là đáng nói. Qua bóng dáng của người cha, một thời lửa khói được kể lại. Và, tiếp nối, là người con của thế hệ tiếp theo. Không gian bao la nhưng vẫn nằm trong bàn tay người phi công.  Tác phẩm, là hồi ký của một người con nhưng đa phần là hình bóng của người cha và những người đồng đội cũ. Cuộc chiến dù đã ba mươi năm qua, nhưng vẫn còn dư  âm, tưởng như mới ngày nào…
Cuốn sách mới xuất bản mà đã được sự chú ý rất nhiều. Nhật báo Los Angeles Times và Orange  County  Register  đều có bài điểm sách.  Tuần báo Publishers Weekly và tạp chí Orange Coast Magazine cũng giới thiệu đầy cảm tình và trang trọng.  Nhiều tác giả nổi tiếng có nhiều hiểu biết về Việt Nam  như Richard Pyle, như Larry Engelmann, như Robert Olen Butler, như  James R. Reckner,… cũng có những nhận xét xác đáng về tầm vóc cũng như giá trị của tác phẩm. Và,  với người Việt Nam,  những chính khách như  Bùi Diễm, Đỗ Ngọc Yến , Hoàng Đức Nhã,… cũng đã cho nhiều  ý kiến  đồng tình chia sẻ…
Với  riêng cá nhân tôi,  tôi đọc “ A Sense OF Duty” không phải vì những bài giới thiệu hoặc điểm sách như thế.  Bản tâm tôi đã rất  thích đọc những cuốn sách viết về chiến tranh Việt Nam. Trong tủ sách của tôi cũng có hàng  trăm cuốn Anh ngữ, Pháp ngữ và Việt ngữ về đề tài này.  Và, càng đọc nhiều tôi lại có  một điều làm tôi ấm ức và cảm thấy bất công. Hầu như những cuốn ngoại ngữ đều chung một luận điệu. Chiến tranh giữa Hoa Kỳ và Cộng sản Bắc Việt, người lính Nam  Việt Nam chỉ là vai trò phụ thuộc. Hiếm có cuốn sách nào có cái nhìn chính xác hơn. Khi học   môn sử ở chương trình  cử nhân, tôi đã nhiều lần nói lên cái tâm trạng và suy nghĩ của mình  trong lớp học, của một người lính đã tham dự cuộc chiến. Thú thực  tôi  có cảm giác  là người  cô đơn, một mình phải thuyết phục đám đông đã sẵn ấn tượng từ sách vở. Mà tôi biết, trong dư luận Hoa Kỳ, những người phản chiến  nắm phần chủ động. Ngay, một người như John Steinbeck, là một nhà văn nổi tiếng đoạt giải Nobel văn chương năm 1962, tác giả của “  The Grapes of Wrath” hay “Of  Mice  and Men” nổi tiếng nhân bản, mà khi viết những bài ủng hộ chiến tranh Việt Nam  như  hàng ngày viết “Letters from Việt nam” cho nhật báo “News Day” hay tranh luận với nhà thơ Liên Xô Evgueni Evtusensko, cũng bị chê là hiếu chiến.
Thành ra, đọc một cuốn sách có nhiều điểm đồng tình với mình, cũng là một điều thích thú. Dù không thích chiến tranh nhưng chúng tôi vẫn vì bổn phận và chiến đấu hết mình vì bổn phận ấy. Tôi sẽ mang cuốn sách cho những người  bạn bản xứ và khoe như tôi đã làm với cuốn sách mới tinh còn  thơm mùi mực của nhà văn Ngô Thế Vinh. Có cuốn sách của người Việt Nam viết về chiến tranh Việt Nam tại sao không phổ biến? Để nói thêm một tiếng nói cho những người đáng được nhắc đến.
Ngoài lý do kể trên, còn một lý do khác, kể ra thì cũng hơi  riêng tư. Tôi đọc cuốn sách này vì người viết là một Không Quân viết về một người cha  Không Quân, niên trưởng của chúng tôi.Và ở đó, tôi tìm được không khí của những phi trường  mà tôi  quen thuộc. Đời sống ấy, dù đã ba mươi năm qua, nhưng còn phảng phất đâu đây. Mỗi lần nhắc lại là  bồi hồi trong tâm.  Bạn bè chúng tôi, bao nhiêu người gục ngã. Những chiếc trực thăng nổ tung trên trời, những chiếc khu trục cháy đỏ vỡ toang tầng không, những cái chết hào hùng.  Lạ kỳ, khi tôi đọc những trang sách viết về  một niên trưởng phi công kỳ cựu, tôi nghe bên tai mình  văng vẳng những nốt nhạc của  bài Không Quân Hành Khúc.  Bài hát ấy,  bạn bè chùng tôi thường hợp ca mỗi khi họp mặt như tiếng hát gọi đàn “ Giờ đoàn người từng vượt bao biên giới đã chiến đấu. Đã chiếm chiến công ngang trời.Giờ đoàn người còn vượt qua biên giới, quyết chiến đấu. Đi không ai tìm  xác rơi.Lúc đất nước muốn, bao người con thân yêu ra đi. Tiếc tấm thân làm gì…”…
Phạm Xuân Quang đã viết “ A Sense of Duty” như một tác phẩm đầu tay của một người tị nạn  đã trở thành một Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, từ những tác động ký ức liên quan đến số phận,  niềm hy vọng cũng như những hậu quả phát khởi từ biến cố trong cuộc chiến Việt Nam.  Là một người trẻ Việt  thuộc thế hệ thứ hai trưởng thành ở Hoa Kỳ,  anh  biểu lộ tấm lòng tri ân với đất nước đả bảo bọc anh và đã  tự mình tình nguyện gia nhập quân đội và trở thành một phi công trực thăng nối nghiệp người cha là một phi công khu trục của Không Quân Việt Nam. Cuộc trùng phùng giữa hai cha con sau một thời gian dài chia cách cũng là một yếu tố để anh có quyết định trên.

https://i2.wp.com/d26yigxxs6gued.cloudfront.net/img/art_herovet/LtHoaPham1959.jpg
Năm 1964, người cha , phi công  Phạm Văn Hòa của phi đoàn khu trục 514 bị  phòng không Việt Cộng bắn  trong khi đang yểm trợ tiếp cận  cho bộ binh dưới đất. Được trực thăng Hoa Kỳ cứu cấp sau khi bị đáp ép buộc, ông trở về nhà  đúng vào ngày sinh của đứa con trai ông, tên Quang. Sau đó ông lại tiếp tục những phi vụ oanh kích, thi hành bổn phận của một quân nhân trong thời binh lửa. Thâm tâm ông không muốn làm hành động của một anh hùng, nhưng ông hiểu  nhiệm vụ của mình để hoàn tất những công việc ấy.
Trước khi Saigòn bị quân cộng sản xâm chiếm,  trung tá Hòa chắc chắn rằng vợ con mình đã được di tản. Ông gửi vợ và mấy đứa con lên một chiếc C130 di tản đến Hoa Kỳ. Riêng ông ta không được may mắn. Ông bị ở lại và  bị tù ngục hơn mười năm. Những trại khổ hình mà ông đã trải qua như Long Giao, Suối Máu, Sơn La, Hoàng Liên Sơn, Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh, toàn những nơi nổi tiếng là rừng thiêng nước độc. Sau khi gần được  phóng thích, Cộng Sản chuyển ông về trại Z0D ở Rừng Lá.Năm 1987, ông được thả về và năm năm sau ông được sang Hoa Kỳ gặp gỡ lại vợ con sau một thời gian sống nghẹt thở vì sự canh chừng của hệ thống công an khắc nghiệt và đa nghi.
Quang Phạm đến Hoa Kỳ lúc chỉ mới mười tuổi và biết vỏn vẹn vài ba chữ Anh Ngữ. Anh  bắt đầu vào trường học. Mẹ anh cũng rất cố gắng hội nhập vào xã hội mới và sau đó đã hành nghề kế toán để nuôi cả gia đình. Quang sống trong một gia đình  vắng mặt người cha và người mẹ đóng vai trò chủ gia đình. Tất cả đều chung một cố gắng sống sao cho có ý nghĩa trong cuộc đời mới. Bà mẹ muốn Quang học những nghành như y khoa hay dược khoa rất bất ngờ khi nghe Quang nói muốn gia nhập Thủy Quân Lục Chiến sau khi tốt nghiệp cử nhân. Bà không thể nào vui với một ý định như thế. Rồi, rốt cuộc Quang cũng thành một phi công như ước muốn của anh thời niên thiếu.

https://i2.wp.com/www.vietamreview.net/images/Webb_Quang.jpg
Năm 1992, gia đình Quang  đoàn tụ ở  về thành phố Oxnard, California. Quang tốt nghiệp cử nhân và sau đó tình nguyện vào Thủy Quân Lục Chiến thành một phi công đầu tiên của thế hệ  Việt Nam thứ hai. Khi Quang vừa tốt nghiệp sĩ quan thì người cha được rời khỏi trại tù Việt Cộng  và trở về sống vất vưởng ở Sài Gòn chờ ngày sang Hoa Kỳ định cư.  Trong khi đó thì Quang thi hành những phi vụ  trong cuộc chiến Bão Sa Mạc tấn công quân Iraq của Saddam Hussein. Hai năm sau,  người cha được định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO  và đoàn tụ với cả gia đình. Nhưng hai ngày sau Quang phải lên đường  trên chiến hạm USS Tarawa từ San Diego  trên hải trình ở Thái Bình Dương, Ấn Độ Dương, vùng Vịnh Trung Đông, biển Somalia. Sau đó Quang lên bờ làm sĩ quan tùy viên cho Tư lệnh Không Đoàn  Ba TQLC. Lúc này , cha con mới có dịp nói chuyện với nhau cũng như gặp gỡ lại những người là chiến hữu  KQ VNCH cũ cùng với nghiệp bay bổng.
Trung tá Phạm Văn Hòa   đã có dịp kể lại tất cả những chi tiết của cuộc đời nhiều thăng trầm của mình với con và tìm ở đó như một chiến hữu có cùng những giấc mộng thời thơ ấu dù lớn lên và trưởng thành từ thời gian không gian khác nhau.
Khi gặp gỡ lại thân phụ mình, Quang vì những ấn tượng sâu sắc về cuộc đời người cha nên có ý định viết một cuốn sách  kể lại những ngày tháng trải qua. Anh ghi chép lại tất cả chi tiết để thành một hồi ký. Năm 2000, ông cựu trung tá Không Quân Việt Nam Phạm Văn Hòa bị xuất huyết não và từ trần. Như thế chỉ còn một mình Quang thực hành chương trình đã định từ trước.
Hành trình của ngươì cha dường như được nối tiếp từ người con.  Phi công Phạm Văn Hòa, tức Hòa Điên, một biệt danh mà bạn bè ông thường gọi, chiến đấu để bảo vệ cho tự do của đất nước ông. Là phi công khu trục và vận tải, ông có cái hãnh diện của một chiến sĩ làm nhiệm vụ.Con ông, Phạm Xuân Quang, tình nguyện vào lính để trở thành một phi công trực thăng cũng với ý nguyện phục vụ đất nước đã bảo bọc anh và gia đình và cũng để thỏa mãn cái  mộng ước đã có khi còn nhỏ ở phi trường Tân Sơn Nhứt.
“A Sense of Duty: My Father, My American Journey” là một chuyện kể cảm động của những người đến Hoa  Kỳ định cư từ những xứ sở xa lạ và đã thành công khi nhập được vào dòng chính.  Một độc giả Hoa Kỳ đã viết rằng đã cảm được nỗi đau , nỗi buồn của người kể chuyện  khi đọc  cuốn hồi ký này. Hoa Kỳ là một xứ sở có rất nhiều những câu chuyện như thế, của những người làm lại cuộc đời từ bàn tay trắng.
Hồi ký này là câu chuyện của gia đình Quang với những người làm trọn nhiệm vụ của mình. Người cha, làm tròn bổn phận với đất nước mình. Người mẹ, làm tròn nhiệm vụ  hiền mẫu  của mình. Người con, làm tròn nhiệm vụ với đất nước đã nuôi dưỡng bảo bọc  mình. Tất cả, là những nỗ lực  của những người hiểu được cái giá của tự do.
Bút pháp của Quang là một cách viết tự nhiên có pha lẫn chút trào lộng cay đắng nhưng tràn đầy sức sống của một người hiểu được mình phải bắt đầu từ đâu và đi trên những con đường nào. Trong nhiều chương sách , ít nhất là  hơn một nửa trong tổng số 24 chương, tác giả đã  nhắc lại thời nhỏ của mình trong khu cư xá trong phi trường Tân Sơn Nhất, nhìn những  máy bay cất cánh để mơ mộng nối gót hành trình của cha. Cũng như, khi sang định cư ở mỹ, phải phấn đấu thế nào, và hội nhập vào dòng chính ra sao cũng như phải chịu những sự kỳ thị bất công dành cho một cậu bé Mỹ gốc Việt. Quang có nhiều kinh nghiệm từ những va chạm ấy và rút ra một kết luận muốn thành  công trong xã hội  Mỹ phải làm việc gấp hai và suy nghĩ gấp bốn một đứa bé da trắng bản xứ.
Hình như, Quang cũng có những ngoái nhìn về  phía cuộc chiến đã qua. Hành trình của anh, khởi đầu một cách gián tiếp từ thân phụ, qua chiến tranh Việt Nam đến chiến tranh vùng Vịnh, từ một cậu bé con của  nguồn gốc  quê hương đến một người lính bảo vệ đất nước  mà mình trưởng thành.  Anh không có mục đích nhìn lại quá khứ mà  chỉ  muốn nhìn lại những gì mà chúng ta nhớ lại từ  quá khứ  ấy. Có nhiều câu hỏi được đặt ra với Quang, từ lúc thơ ấu đến lúc trưởng thành.

Những câu hỏi bao quanh cuộc chiến đã tàn lụi  và những hệ quả của nó cho toàn dân Việt Nam  nói chung và gia đình Quang nói riêng. Những suy nghĩ  về tự do và cái giá phải trả của nó. Chính vì suy nghĩ trên nên Quang đã nhập cuộc, như phản ứng của một người trẻ hiểu biết được trách nhiệm của mình.
Cho nên, có một độc giả đã viết “ Trước đây, không bao giờ tôi hỏi cha tôi về những chuyện đã xẩy ra từ hồi chiến tranh Việt  Nam. Bây giờ, đọc xong cuốn sách này, tôi sẽ hỏi,…”
Phải rồi, chiến tranh Việt Nam có những bí ẩn kể như phi lý. Hàng triệu người lính của cả hai bên Nam Bắc và  58 ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ bị tử trận.  Không chỉ thế,  còn hàng triệu nạn nhânchiến cuộc với những biến cố kinh hoàng. Chiến tranh chấm dứt, hơn hai trăm ngàn sĩ quan viên chức Nam Việt Nam vào tù Cộng sản. Hàng triệu người vùi thân biển cả. Tất cả, là trả giá cho tự do. Cái giá khá mắc cho một dân tộc vốn thông minh cần cù…
In một cuốn sách như  tác phẩm này  có nhiều trạng huống tế nhị mà tác giả phải vượt qua.  Rất nhiều nhà xuất bản đòi hỏi phải theo những ý hướng đã định và đề tài chiến tranh Việt Nam không phải là đề tài có nhiều hấp dẫn.  Khi nhà xuất bản Random House  đồng ý  xuất bản thì lại gặp nhiều vấn đề như  hình bìa có bản đồ Việt nam với tên thành phố được Cộng sản cải danh lại mà không phải là Sài Gòn. Nhưng rốt cuộc, nhà xuất bản phải nhượng bộ và hình bìa là ảnh hai cha con với bản đồ Việt nam làm nền phía sau với tên của thành phố Sài Gòn. Cũng như trong giai đoạn “edit” có rất nhiều đoạn bị cắt bỏ bởi chủ quan của nhà xuất bản. Dẫu sao, đó cũng là chuyện thông thường khi xuất bản một tác phẩm ở Hoa Kỳ.
Tác giả đã mang sự thành thực cũng như  tôn trọng sự thực để làm thành sự quyến rũ cho tác phẩm. Ông không cao giọng rao giảng cũng như muốn  làm người phê phán. Ông  chỉ mang cuộc đời của mình và của cha mình để tôn vinh tự do và biết phải chiến đấu để có  sự cao quý ấy.

 Lễ Động Đất Kiosk Tượng Đài Chiến Sĩ Việt Mỹ
Phạm Xuân Quang, Phạm Hòa, Chánh Án Nguyễn Trọng Nho, Nam Lộc, Thị Trưởng Frank Fry, Hồ NM Đức, Giỏi Nguyễn, Nghị Viên Kermit Mash, Thị Trưởng Garden Grove Goldwater, Lâm Nguyễn
 
Tác giả “ A Sense of Duty”, Phạm Xuân Quang, đã phục vụ như một phi công của Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ, đã tham gia chiến dịch vùng Vịnh và Somalia. Anh cũng là người điều hành công ty QTC Medical Services và CEO của Lathian Systems, công ty mà anh là người sáng lập. Anh cũng là một khuôn mặt quen thuộc của giới truyền thông Hoa Kỳ, đã góp mặt trên nhiều shows   vô tuyến truyền hình và truyền thanh. Viết “ A Sense of Duty “, anh muốn làm tròn bổn phận của một người   với cha anh mình, đất nước mình. Chúng ta hãnh diện có những khuôn mẫu  Việt Nam thành công như thế:  trung hậu trong gia đình, dũng cảm trong chiến trường và nhạy bén hiệu quả trên thương trường…
Nguyễn Mạnh Trinh

Friday, August 12, 2016

Một H.O. Không Giống Ai ?

Đáng lý tôi phải viết ra chuyện nầy để chư liệt vị thưởng lãm từ lâu; nhưng cứ lần khân mãi cho đến bây giờ mới “khai bút”! Mà bây giờ có nghĩa là đã qua những 25 năm sau khi chương trình H.O bắt đầu.
Hồi đó, trước năm 1990, chẳng có ai trong những người tù từ các trại tập trung của Cộng Sản được “tha” về với gia đình mà tưởng tượng được sẽ có một ngày bản thân họ cùng vợ con được thong dong leo lên phi cơ; thực hiện một cuộc “đổi đời” từ địa ngục trần gian tới thiên đường!
Thế nhưng chuyện khó tin đó đã trở thành sự thật. Chương trình định cư những người tù, trở về từ các trại tập trung của Cộng Sản sau ngày mất nước 30-4-75 đã không còn là hoang đường, là ảo tưởng nữa. Chúng tôi, hàng mấy chục ngàn cựu tù, đủ mọi thành phần quân, cán, chính và dân sự trong guồng máy Việt Nam Cộng Hòa; đã được cứu vớt.
Ở đây, chúng ta chỉ gói gọn về lãnh vực nhân đạo và tiếng của con tim, để nói lên lòng cảm ơn nhân dân, quốc hội, chính phủ Hoa Kỳ, đã tạo cơ hội cho hàng trăm ngàn những con người chúng tôi được “đổi đời”, làm lại từ đầu trên quê hương tự do dân chủ và tôn trọng quyền con người! Nếu không có chương trình H.O, chúng tôi và gia đình vợ con sẽ sống ra sao trong một đất nước, dưới gót dép râu ngu dốt và nón tai bèo chất chứa hận thù để, đến 40 năm sau kết thúc cuộc chiến, Việt Nam càng ngày càng trở về với thời mông muội của văn mình nhân loại!
Bốn mươi năm sau cái ngày đen tối 30 tháng tư, 25 năm sau ngày chúng tôi được đổi dời; có rất nhiều chuyện để kể về những H.O. Hàng trăm, thậm chí hàng ngàn câu chuyện nói về sự thành công của những H.O và con cái họ trên quê hương thứ hai như thế nào… Nhưng câu chuyện kể của tôi sau đây thì rất dặc biệt, rất riêng biệt, rất khác biệt với những chuyện bình thường, về một HO hoàn toàn không giống ai trong số những HO mà tôi được quen biết!

Đại đa số những cựu tù theo diện H.O, qua Hoa Kỳ với hai bàn tay trắng, tháp tùng là vợ con nheo nhóc. Khi đến nơi, trừ một số ít tiếp tục theo học ở các Đại Học Cộng Đồng, sau đó làm những việc chuyên môn… còn đại thể, vừa học Anh Văn trong các trường ESL ban đêm miễn phí, ban ngày tìm việc làm bất cứ loại gì để “bắc cầu” cho các con được đi học; lo cho từng đứa, nguyện cầu cho chúng vào đại học, tốt nghiệp ra trường… Nhìn chung, chúng tôi đều thực tế, tất cả vì tương lai các con, dồn hết sức, dầu tư mọi thứ cho chúng được thành công!
Trường hợp “cá biệt” sau đây, tôi nghĩ, có thể là rất đặc biệt trong hàng ngũ những cựu tù H.O.! Tôi vẫn thường kêu tù hữu này là thằng, tiếng thằng, tiếng mày tao thân thương suốt thời gian chúng tôi cùng quằn quại trong thê lương, khốn cùng của tầng cuối địa ngục từ trại Long Giao (Long Khánh), ra đến Hoàng Liên Sơn, xuống Hồng Ka (Yên Bái), về Tân Lập (Vĩnh Phú)…Trong hơn một trăm hai mươi con giáp, nó hoàn toàn không giống con nào. Anh em trong tù, đa số bị cú lừa đau đớn của cọng sản, tự ý nộp mình “trình diện đi cải tạo” trong khi nó bị bắn nát đầu gối, bị bắt với vũ khí trên tay, bị tra tấn, bị cùm xiềng rồi mới bị đưa vô tù với hai cánh tay còn bị trói lặt sau lưng! Người cựu tù nầy, lúc mất nước, chỉ là một Trung Úy xuất thân Khóa 2 Đại Học Chiến Tranh Chính Trị Đà Lạt, chưa có vợ. Khi nghe Dương Văn Minh kêu gọi đầu hàng, nó trốn vào rừng chiến đấu trong hàng ngũ “Phục Quốc”. Tháng 10/1975 bị bắt, bị hành hạ tàn phế một bên chân nên nó chỉ còn một cẳng rưỡi thôi. Khi ở trại K2 Tân Lập, tỉnh Vĩnh Phú, tuy đôi chân khập khiểng nó vẫn hàng ngày ”được phân công” gánh hai thúng đi dọn hết “phân bắc” trong tất cả các nhà xí trong trại ra ruộng rau xanh…! Anh em tù thường gọi là “Thăng cứt”, nó dính chết cái tên từ đó! Sau hơn tám năm nó được ra trại về xum họp gia đình.
Thế mà, sau khi qua Hoa Kỳ theo diện H.O như bao nhiêu anh em tù khác, nó lại càng không giống ai khi có một “chổ đứng” riêng biệt không ai ngờ. Lúc tôi gặp lại nó, với quân phục rằn ri, mang lon Trung Tá trong Oregon State Defense Force, thuộc Oregon Military Department, thì tưởng rằng mình đang nằm mơ, tưởng nó mua đồ lính cũ về mặc lấy le chơi! Không thể nào ngờ một tù chính trị được định cư theo diện “con bà phước” H.O mà, sau 25 năm lại là một sĩ quan trong đội quân phòng vệ tiểu bang Oregon.

Tôi tham dự trại Hướng Đạo Trưởng Niên mang tên “Bách Hợp 2015” tại Oregon từ ngày 28-29-30 tháng 8 năm 2015. Xét trong số bạn bè định cư ở tiểu bang nầy, quanh quẩn chỉ một mình “Thăng C.” nằm trong danh sách nhờ vả! Qua điện thoại, nó rất hoan hỷ chấp nhận đón ở phi trường và cho tôi tá túc mấy ngày chưa nhập trại…! Yên chí lớn, vợ tôi cũng an lòng vì có bạn tin cẩn để giao “hàng quý hiếm”!
Cả vợ chồng Thăng có mặt ở phi trường Portland rất sớm đón tôi về nhà cách xa 45 phút đường xa lộ. Hai ông bà rất niềm nỡ và hiếu khách, làm tôi cũng bớt phần lo. Ở khách sạn làm sao bằng tá túc nhà bạn bè để ôn lại những vui buồn của đầy ắp kỷ niệm tù! Sau khi vào nhà, tôi sững sờ với những hình ảnh treo đầy phòng làm việc của Thăng. Nếu không có dịp đến nhà chàng, tôi nghĩ, chẳng bao giờ nhìn được những tấm hình, bằng cấp, huy chương… của người bạn tù H.O thuở trước, hiện tại là một sĩ quan trong quân đội tiểu bang Oregon! Quả thật tôi bị lóa mắt vì không ngờ bạn mình lại thăng tiến trong lãnh vực độc đáo này! Quan sát quanh phòng, nào lễ phục, quân phục làm việc, quân phục tác chiến, các loại mủ mảo, túi ngủ dã chiến… các loại súng cá nhân từ dài đến ngắn. Đặc biệt lần đầu tiên tôi thấy cây súng hình dáng như colt 45, nhưng nhỏ xíu nằm gọn trong lòng bàn tay, rất đẹp!
Vợ chồng Thăng nhìn tôi cười, tôi thật sự ngạc nhiên và khâm phục người bạn tù ngày nào, bây giờ đường đường là một sĩ quan cấp tá trong quân đội Hoa Kỳ. Sau cơm tối, tôi bèn mon men cố ý “phỏng vấn” nhưng nó cố tình đánh trống lảng, vin đủ mọi lý do từ chối vì “chuyện của tui thật sự không giống ai. Rất tầm thường. Một cái job thông ngôn thông dịch bình thường như mọi người. Còn thua cái job Disney land nữa kìa (cười). Anh em mình, nếu không mất nước, nếu chưa bị leo lên bàn thờ ngồi ngắm gà mái khỏa thân, thì tối thiểu cũng Đại Tá hay Tướng rồi, chứ nhằm nhò gỉ một cái mai bạc này” nó nói.
Nhưng tao chỉ tò mò muốn biết lúc nào và nguyên do nào mầy vào quân đội Tiểu Bang Oregon. Ở Cali, anh em Tân Lập nghe nói mầy vào lính, cấp bậc trung tá, nhiều đứa thối miệng đồng hóa mầy với quý vị “nhà đòn”. Bây giờ, trước mặt tao là những bằng chứng rất thật; nào hình ảnh, bằng cấp, huy chương, lệnh thăng cấp có chữ ký của Thống Đốc…Và một lô súng ống, đạn dược, quân trang, quân dụng được trử trong nhà mầy! Thú thật, tao không thể tưởng tượng trong anh em mình lại có một H.O mà không giống “H.O.” nào hết trơn dzậy ?!?

Sau ba ngày trại “Bách Hợp 2015” trong rừng, tôi được Thăng lên tận trại đón về. Bà xã nó đi thăm con gái vừa sanh cháu ngoại. Sau khi ra tù, chàng lấy vợ trẻ hơn những 10 tuổi. Lúc lên máy bay theo diện HO13, bầu đoàn thê tử của nó là một vợ và hai con nhỏ xíu! Hai cháu gái giờ dây là hai Dược Sĩ đang phục vụ trong hai bệnh viện ngay tai Oregon,
Thăng chỡ thẳng tôi đến trang trại của vợ chồng sở hữu đã 15 năm trước. Theo lời nó kể, lúc đầu mới qua Mỹ, vợ chồng chàng ở Cali, nhưng có bà con ở Washington State và Oregon, nên dọn đến Olympia, sau đó trụ lại Oregon vì hai vợ chồng cùng đi làm cho hãng điện tử Merix. Một năm sau, khi thời cơ đến, nó sang lại và làm chủ một “garage” chuyên sửa hộp số xe với một manager cùng 5 thợ người Mỹ. Từ cơ ngơi này, tiến đến mua hai trang trại, tổng cộng hơn 30 mẫu tây. Quả thật, “giấc mơ Hoa Kỳ” và vận may đã mỉm cười với gia đình nó khiến cho mọi việc đều xuôi tay chèo mát mái một cách nhẹ nhàng!
Cuối năm 2000, Quân đội Oregon tuyễn dụng một số Thông Dịch Viên các thứ tiếng. Thăng nạp đơn ứng thí, được trúng tuyển. Lúc tuyễn dụng, người ta xem résumé, chấp nhận cho chàng cấp bực Trung Úy, nó không chịu, vì nếu tính từ 1975 thì giờ đây (2000) nó tối thiểu phải là cấp Tá trong QLVNCH. Vì thế, sau đó người ta thuận cho nó mang lon Đại Úy.. Vì cùng lúc đang cưu mang cơ xưởng sữa xe và trang trại… nên chàng xin làm việc theo Hợp Đồng. Thế là từ đó nó ung dung làm việc và tuần tự trèo từ Đại Úy lên đến cấp bực Trung Tá trong 12 năm!
Trang trại của vợ chồng giờ đây cho người Mỹ mướn trồng cỏ trong kỷ nghệ chăn nuôi bò sửa. Có mấy mẫu trồng táo, mận giống từ Đà Lạt. Tuy vợ chồng đã về hưu thong dong nhân thế, mua nhà trong thành phố, nhưng tới mùa thì phải tốn cả tháng thu hoạch, sấy, đóng gói và phân phối… Nhưng cái “job” quân đội thì chàng vẫn tiếp tục không kể tuổi tác !!!
Tù chính trị Việt Nam sau 1975, được định cư Hoa Kỳ theo diện H.O. hàng trăm ngàn. Nhưng, theo tôi chủ quan, Nguyễn Thế Thăng là một H.O. độc đáo, có một không hai, vẫn còn theo “binh nghiệp” ngay trên quê hương thứ hai nầy. Hậu duệ thế hệ thứ hai, thứ ba… vào quân đội Hoa Kỳ, mang lon cấp Tá, cấp Tướng là chuyện bình thường. Nhưng nó, chính nó, một người tù H.O mới là chuyện đáng nói! Tôi rất vinh dự có nó là một tù hữu của tôi.

Thursday, August 11, 2016

Hải quân Mỹ đối phó tàu săn ngầm của Trung Cộng như thế nào?

Tàu ngầm Mỹ là mối đe doạ cho hải quân Trung Cộng - Ảnh: Hải quân Mỹ

(Tin Nóng) Trung Cộng trong 5 năm qua đã ồ ạt phát triển các tàu hộ vệ săn ngầm nhằm chống tàu ngầm Mỹ ở Biển Đông, buộc Hải quân Mỹ phải tránh xa vùng biển này. Tuy nhiên Hải quân Mỹ đã phát triển các vũ khí lợi hại đối phó chiến lược săn ngầm của Trung Cộng.

Hải quân Mỹ đối phó tàu săn ngầm của Trung Quốc như thế nào? - ảnh 1
Tàu hộ vệ săn ngầm lớp Type 056 Trung Cộng đang triển khai ồ ạt nhằm đối phó tàu ngầm Mỹ - Ảnh: Sina
Tạp chí tài chính The Motley Fool (Mỹ) ngày 22.8 cho biết chưa đầy 5 năm qua, Trung Cộng đã đóng và đưa vào hoạt động gần 20 tàu hộ vệ săn ngầm lớp Type 056. Tạp chí The National Interest mô tả lớp tàu này là “nhỏ, rẻ, đa năng, trang bị vũ khí hùng hậu”, phục vụ chiến lược quân sự của Trung Cộng ở các vùng biển tranh chấp và nhất là nhằm xua đuổi tàu ngầm Mỹ ra khỏi khu vực Biển Đông.
Tàu hộ vệ săn ngầm lớp Type 056 có khoang đậu trực thăng, mang được 1 trực thăng săn ngầm Z-18F. Tàu có các thiết bị định vị thuỷ âm (sonar) hiện đại để dò tìm tàu ngầm dưới lòng biển, mang theo nhiều ngư lôi và Hỏa Tiển chống tàu ngầm.
Ngoài ra Trung Cộng còn phát triển lớp tàu khu trục Type 055 mới hơn, to lớn hơn, cũng có chức năng săn ngầm và mang được 2 trực thăng.
Vì sao Trung Cộng ồ ạt phát triển lực lượng tàu săn ngầm? The Motley Fool cho hay mọi chuyện bắt đầu từ tháng 3.1996, khi Trung Cộng tập trận đổ bộ quy mô lớn ở eo biển Đài Loan, và Mỹ dằn mặt bằng cách đưa một đội tàu sân bay vào eo biển này.
Vụ việc này khiến Trung Cộng tức tối và tìm cách nâng cao năng lực hải quân để buộc Hải quân Mỹ phải tránh xa các vùng biển và khu vực mà Trung  Cộng cho là của mình.
Từ đó đến nay Trung Cộng đã phát triển các vũ khí chống tàu sân bay như Hỏa Tiển đạn đạo DF-21D được quảng cáo là “sát thủ tàu sân bay”. Đối phó với máy bay tàng hình của Mỹ có thể nằm ngoài tầm khống chế của Hỏa Tiển DF-21D và có khả năng thâm nhập nội địa Trung Cộng nhờ được tiếp dầu trên không, Trung Cộng phát triển các loại radar có thể phát hiện máy bay tàng hình ở khoảng cách gần 600 km.
Và nhằm chống lại các tàu ngầm Mỹ, Trung Cộng phát triển lớp tàu hộ vệ săn ngầm Type 056 và tàu khu trục Type 055.
Vậy Hải quân Mỹ có phương cách gì để đối phó chiến thuật săn ngầm của Trung Cộng? Theo The Motley Fool, Hải quân Mỹ có 2 phương thức đối phó lớp tàu Type 055 và Type 056.
Hải quân Mỹ đối phó tàu săn ngầm của Trung Quốc như thế nào? - ảnh 2
Hỏa Tiển LRASM gắn dưới cánh Máy Bay Phản Lực F/A-18 chuẩn bị thử nghiệm - Ảnh: Hải quân Mỹ
Hải quân Mỹ đối phó tàu săn ngầm của Trung Quốc như thế nào? - ảnh 3
Đồ hoạ Hỏa Tiển LRASM tiêu diệt tàu chiến địch – 
Nguồn: Lockheed Martin
Đầu tiên, Hải quân Mỹ phát triển các dòng Hỏa Tiển diệt hạm tầm xa để tiêu diệt các tàu săn ngầm Trung Cộng. Ngày 12.8 qua, tập đoàn Lockheed Martin tuyên bố chuẩn bị thử nghiệm loại tên lửa diệt hạm tầm xa (LRASM) trang bị cho tiêm kích tàu sân bay F/A-18E Super Hornet. Việc thử nghiệm sẽ diễn ra cuối tháng 8, và sau đó sẽ sản xuất hàng loạt cung cấp cho Hải quân Mỹ.
LRASM là loại Hỏa Tiển hành trình diệt hạm được thử nghiệm lần đầu năm 2009, có tầm bắn xa hơn 300 km, gấp 3 lần loại tên lửa diệt hạm Harpoon đang dùng trên các tàu chiến Mỹ hiện nay. LRASM được dẫn đường bằng hệ thống định vị GPS, đầu dò tầm nhiệt, mang đầu đạn nặng gần 500 kg, trị giá 2 triệu USD/tên lửa.
Hải quân Mỹ còn xem xét dùng Hỏa Tiển hành trình Tomahawk loại cải tiến dùng để diệt hạm (loại Tomahawk Block IV) và đã thử nghiệm tốt hồi đầu năm 2015. Hải quân Mỹ có hàng ngàn quả Hỏa Tiển này, lâu nay chỉ dùng tấn công đất liền, nay sẽ dùng để tấn công tàu chiến đối phương từ khoảng cách rất xa, không dưới 1.000 dặm (1.600 km). Hỏa Tiển Tomahawk có thể phóng đi từ tàu chiến, tàu ngầm và máy bay. Tomahawk tuy không có khả năng tàng hình tốt như LRASM nhưng rẻ hơn (1 triệu USD/quả) và bay xa hơn.
Một loại Hỏa Tiển khác cũng được xem xét đến là Hỏa Tiển đánh chặn SM-6 dùng chống máy bay và Hỏa Tiển đạn đạo của đối phương. Loại Hỏa Tiển này đã thử nghiệm thành công nhiều năm nay, có thể cải tiến hệ thống hướng dẫn để vừa đánh chặn Hỏa Tiển cũng như dùng hạ tàu chiến địch. Mỗi quả SM-6 trị giá 4 triệu USD.
Như vậy chí ít Hải quân Mỹ có trong tay 3 loại Hỏa Tiển đáng sợ đối với các tàu chiến Trung Cộng, thay thế Hỏa Tiển diệt hạm Harpoon cũ kỹ, tầm bắn ngắn.
Hải quân Mỹ đối phó tàu săn ngầm của Trung Quốc như thế nào? - ảnh 4
Trong tương lai, tàu ngầm không người lái sẽ hỗ trợ đắc lực cho các tàu ngầm Mỹ - Ảnh: Hải quân Mỹ

Thứ hai, Hải quân Mỹ sẽ sử dụng các tàu ngầm không người lái để giảm thiểu rủi ro khi đối mặt các tàu chống ngầm Trung Cộng. Đó là chương trình tàu ngầm robot (LDUUV) dùng trong chiến đấu. Một tàu ngầm hạt nhân có thể mang theo nhiều tàu ngầm robot chiến đấu, điều khiển chúng từ xa để diệt tàu địch và rủi ro vì thế cũng không đáng kể.
Hãng Boeing đã giới thiệu với Hải quân Mỹ loại tàu ngầm robot Echo Ranger có lượng choán nước 5 tấn. Hiện Hải quân Mỹ đã lên danh sách các nhà thầu sản xuất các tàu ngầm không người lái này.
Theo The Motley Fool, mặc dù Hải quân Mỹ vẫn còn trong giai đoạn đầu của việc phát triển một lực lượng tàu ngầm không người lái, tuy nhiên những năm tới khả năng này sẽ phát triển mạnh mẽ hơn và thu hút các nhà thầu quốc phòng hơn.
Anh Sơn